Đồng chí Hà Huy Tập thuộc lớp cán bộ tiền bối tiêu biểu của Đảng ta, là một trong số ít đồng chí được đào tạo tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Sau Cao trào 1930 - 1931 và Xô Viết Nghệ - Tĩnh, cách mạng Việt Nam lâm vào thoái trào, đồng chí được Quốc tế Cộng sản cử về nước để khôi phục phong trào cách mạng. Đồng chí đã đưa ra những chủ trương đúng đắn trong thời kỳ vận động dân chủ (1936 - 1939). Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Hà Huy Tập trải qua 15 năm, trong đó có gần 2 năm làm Tổng Bí thư của Đảng (từ tháng 10/1936 đến tháng 3/1938). Đồng chí Hà Huy Tập đã cùng với tập thể Ban Chấp hành Trung ương chèo lái con thuyền cách mạng nước ta vượt qua phong ba, bão táp, đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng tiến lên. Trong quá trình hoạt động và trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Hà Huy Tập đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng và có nhiều đóng góp to lớn đối với Đảng, với quê hương, đất nước.
I. KHÁI QUÁT VỀ QUÊ HƯƠNG VÀ THÂN THẾ, GIA ĐÌNH CỦA ĐỒNG CHÍ HÀ HUY TẬP
1. Quê hương
Hà Tĩnh được mệnh danh là vùng “địa linh, nhân kiệt”. Từ thời nhà Trần đến thời nhà Nguyễn, vùng đất này có tới 148 vị đại khoa. Là nơi có nhiều danh nhân nổi tiếng như: Nguyễn Huy Tự; Đại thi hào Nguyễn Du; La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp; danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác; nhà thơ, nhà kinh tế thủy lợi tài ba Nguyễn Công Trứ; nhà sử học Phan Huy Chú; nhiều nhà khoa học nổi tiếng như: Lê Văn Thiêm, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Đình Tứ; nhiều nhà Cộng sản lỗi lạc như: Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, Hà Huy Tập - Tổng Bí thư của Đảng, Lý Tự Trọng - người đoàn viên Cộng sản đầu tiên...
Vùng đất Cẩm Hưng, quê hương đồng chí Hà Huy Tập trước đây thuộc phủ Hà Hoa, huyện Hoa Xuyên, năm 1841 đổi thành huyện Cẩm Xuyên gồm 4 tổng. Xã Cẩm Hưng thuộc tổng Thổ Ngọa, nằm dưới chân dãy núi Hoành Sơn, có tuyến quốc lộ 1A, đường bộ cao tốc Bắc - Nam đi qua. Đây là vùng quê có truyền thống hiếu học. Trải qua các triều đại phong kiến, Cẩm Hưng có nhiều người đỗ đạt cao, dòng họ Hà Huy có nhiều người hiếu học và học giỏi, chỉ tính trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã có 23 người đậu Tú Tài, cử nhân kể cả Hán Văn. Trải qua các thời kỳ lịch sử, Nhân dân xã Cẩm Hưng luôn nêu cao tinh thần yêu nước, kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm. Đảng bộ và Nhân dân Cẩm Hưng luôn tự hào là quê hương của các phong trào cách mạng lớn, của những người lãnh tụ xuất sắc trong các cuộc khởi nghĩa chống Pháp nổi tiếng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
2. Thân thế, gia đình đồng chí Hà Huy Tập
Đồng chí Hà Huy Tập sinh ngày 24/4/1906, trong một gia đình nhà Nho nghèo tại làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa, nay là xã Cẩm Hưng, tỉnh Hà Tĩnh.
Thân phụ đồng chí Hà Huy Tập là ông Hà Huy Tương, đỗ cử nhân nhưng không theo con đường làm quan mà ở quê dạy học và làm thuốc. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Lộc, một nông dân cần cù, chất phác, cả cuộc đời gắn bó với đồng quê. Ông Hà Huy Tương và bà Nguyễn Thị Lộc sinh được năm người con, ba trai, hai gái. Đồng chí Hà Huy Tập là người con thứ hai của gia đình.
Từ năm 1912 đến năm 1914 Hà Huy Tập được cha kèm cặp học chữ Hán tại nhà. Năm 1915, Anh bắt đầu theo học Trường sơ học ở Tổng Thổ Ngọa. Tháng 9/1917, Anh ra tỉnh lỵ Hà Tĩnh học Trường Kiêm bị Pháp - Việt. Năm 1919, nhà trường mở đợt thi tuyển những học sinh giỏi để xét cấp học bổng, đồng chí Hà Huy Tập thi đỗ và được đặc cách vào thẳng trường Quốc học Huế. Năm 1923, Anh tốt nghiệp trường Quốc học Huế với tấm bằng hạng ưu và được bổ nhiệm về dạy tại trường Tiểu học Pháp - Việt, thị trấn Nha Trang. Trong thời gian dạy học ở Nha Trang, Hà Huy Tập đã đem kiến thức và lòng nhiệt tình truyền dạy cho học sinh. Những bài giảng của Anh đã có tác động lớn tới các em về tình yêu nước, thương nòi, căm thù bọn vua quan phong kiến. Năm 1925 Anh chuyển về Trường Tiểu học Cao Xuân Dục, Thành phố Vinh (nay là phường Thành Vinh, tỉnh Nghệ An). Là một giáo viên cương trực, thẳng thắn, Hà Huy Tập luôn đả kích những hành động sai trái của bọn thực dân, phong kiến, đứng về phe những người nghèo khổ và bênh vực cho họ. Anh chủ trương đoàn kết các giáo viên lại để bày tỏ thái độ chống các quy định độc đoán, sai trái của nhà trường đối với giáo viên và học sinh. Thái độ bất phục tùng của Anh đã làm cho nhà cầm quyền và hiệu trưởng nhà trường tức giận, chúng luôn tìm cách gạt Anh ra khỏi danh sách nâng lương cho giáo viên; viên quan đứng đầu tỉnh còn đe dọa sẽ cách chức giáo viên của Hà Huy Tập.
Ngày 16/01/1928, Hà Huy Tập kết hôn với Nguyễn Thị Giáo là học sinh trường Đồng Khánh (Huế) giác ngộ cách mạng, vào Sài Gòn hoạt động trong tổ chức Việt Nam Cách mạng Đảng ở Nam kỳ. Hà Huy Tập và Nguyễn Thị Giáo sinh được một người con gái tên là Hà Thị Thúy Hồng.
II. QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG
Sự kiện quan trọng đánh dấu bước trưởng thành, giác ngộ cách mạng của Hà Huy Tập là mùa thu năm 1925, đồng chí được gia nhập vào Hội Phục Việt (Tổ chức này lúc đầu gọi là Phục Việt (năm 1925), sau đổi tên là Hưng Nam hội (đầu năm 1926), Việt Nam Cách mạng Đảng (tháng 7/1926), Việt Nam Cách mạng đồng chí (tháng 7/1927), Tân Việt Cách mạng Đảng (tháng 7/1928) và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (ngày 01/01/1930)). Trong thời gian này, Hà Huy Tập được đọc một số sách, báo Cộng sản từ Pháp gửi về như: tác phẩm Đường Kách Mệnh của Nguyễn Ái Quốc, báo LeParia (Người cùng khổ) do Nguyễn Ái Quốc làm chủ bút, báo L’ Humanité (Nhân đạo) - Cơ quan lý luận của Đảng Cộng sản Pháp... Thông qua những tài liệu này, con đường đấu tranh cách mạng từng bước được định hình rõ, Hà Huy Tập hiểu được động lực chính của cách mạng và cái đích hướng tới của những người cộng sản, hiểu được vai trò to lớn của giai cấp công nhân trong đấu tranh cách mạng. Hà Huy Tập tích cực tuyên truyền, giác ngộ công nhân, kêu gọi mọi người đoàn kết cùng tranh đấu.
Khi dạy học ở trường Cao Xuân Dục (phường Thành Vinh, tỉnh Nghệ An), Hà Huy Tập dành thời gian mở một số lớp học cho công nhân, nông dân và tiểu tư sản; bề ngoài là chống mù chữ, nhưng bên trong là tập hợp công nhân lại để tuyên truyền… Hà Huy Tập còn tham gia vào nhóm công tác bí mật, tổ chức đưa những thanh niên ưu tú sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Ngoài ra, đồng chí còn tổ chức Chi bộ thanh niên ở ngay lớp học văn hóa của công nhân. Những hoạt động của đồng chí trong cuộc vận động cách mạng đã mang lại một số kết quả. Nhưng bị công sứ Vinh phát hiện, chúng đã tìm cách đóng cửa các lớp học, thuyên chuyển các thầy giáo đi nơi khác (trong đó có Hà Huy Tập).
Tháng 3/1927, Hà Huy Tập rời Vinh vào Sài Gòn xây dựng phong trào yêu nước; tại đây anh xin dạy tại trường tiểu học tư thục “An Nam học đường” vừa để kiếm sống, vừa che mắt địch. Đầu năm 1928, Hà Huy Tập cùng với Nguyễn Đình Kiên, Đào Xuân Mai, Trần Ngọc Danh, Trần Phạm Hổ, Nguyễn Khoa Hiền sáng lập ra Kỳ bộ Việt Nam cách mạng Đảng ở Nam Kỳ do Nguyễn Đình Kiên làm Bí thư, Hà Huy Tập làm thư ký. Kỳ bộ có vài chi bộ với vài chục đảng viên, chủ yếu tập trung ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định trước đây. Tháng 7/1928, Hà Huy Tập thay mặt lãnh đạo Kỳ bộ Nam kỳ tham dự Đại hội toàn quốc của Việt Nam Cách mạng Đảng tại Huế, để bàn việc hợp nhất với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Do chưa thống nhất biện pháp hợp nhất nên Hội nghị không đạt kết quả. Tại Đại hội, Việt Nam Cách mạng Đảng đổi tên thành Đảng Tân Việt.
Tháng 12/1928, xảy ra vụ Bácbie ở Sài Gòn. Cảnh sát Nam Kỳ tiến hành lục soát xung quanh khu vực xảy ra vụ án và tìm thấy văn phòng bí mật và cơ sở ấn loát của Kỳ bộ Tân Việt. Chúng tìm thấy nhiều tài liệu quan trọng, bút tích viết bằng tay của các đồng chí, phần nhiều do Hà Huy Tập viết, khi đồng chí đang làm thư ký của Kỳ bộ. Trước tình hình đó, Kỳ bộ Tân Việt chủ trương cho một số đồng chí đi tạm lánh một thời gian để tránh sự vây ráp, săn lùng của địch. Cuối tháng 12/1928, Hà Huy Tập rời Sài Gòn sang Quảng Châu và tìm cách bắt liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để bàn việc hợp nhất. Tại đây, Hà Huy Tập được sự giúp đỡ của đồng chí Lê Hồng Sơn, anh nhận ra việc hợp nhất giữa hai tổ chức đã trở thành lỗi thời. Anh quyết định ở lại hoạt động theo con đường cộng sản mà bấy lâu đã mơ ước và tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đang hướng tới hoàn thiện. Sự lựa chọn này là bước ngoặt có tính quyết định, đánh dấu thời điểm đồng chí Hà Huy Tập trở thành nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, gắn bó toàn bộ cuộc đời với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và Đảng. Với ý nghĩa đó, Hà Huy Tập trở thành một trong những đồng chí thuộc lớp chiến sĩ tiên phong trong thời kỳ đấu tranh cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam - chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam.
Tháng 5/1929, thông qua Tổng lãnh sự Liên Xô tại Trung Quốc, Quốc tế Cộng sản đồng ý cấp giấy thông hành cho Hà Huy Tập sang Liên Xô học. Ngày 24/7/1929, Hà Huy Tập vào học tại Trường Đại học Phương Đông. Tại đây, Anh đã dành nhiều thời gian nghiên cứu sâu Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, nghiên cứu Đề cương cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa được thông qua tại Đại hội lần thứ VI Quốc tế Cộng sản. Ngoài ra, Hà Huy Tập còn say sưa tìm đọc các tác phẩm Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của Mác - Ăng ghen, những nguyên lý chủ nghĩa Cộng sản của Ăngghen, những bài viết của Lênin bàn về Chủ nghĩa Mác và những tác phẩm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc... Hà Huy Tập và nhóm sinh viên Việt Nam tại trường trở thành cầu nối giữa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với Quốc tế Cộng sản và cách mạng Việt Nam. Ngày 25/4/1931, đồng chí Hà Huy Tập được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô. Đầu năm 1932, Quốc tế Cộng sản đã giao nhiệm vụ cho Hà Huy Tập và các thành viên khác dự thảo văn kiện Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương, được coi là sản phẩm trí tuệ đầu tiên, có tầm chiến lược về hoạt động của Đảng trong tình hình mới.
Tháng 4/1932, đồng chí Hà Huy Tập tốt nghiệp Đại học Phương Đông và dự định qua Pari trở về nước, nhưng do sự kiểm soát gắt gao của cảnh sát và mật thám đã làm gián đoạn lộ trình của đồng chí. Cuối tháng 6/1932, Hà Huy Tập quay trở lại Liên Xô, thời gian này, đồng chí tập trung viết cuốn sách: Sơ thảo lịch sử phong trào Cộng sản ở Đông Dương, bằng tiếng Pháp với bút danh Hồng Thế Công. Cuốn sách nêu bật vai trò đấu tranh của công nhân Đông Dương, sôi nổi hơn cả là phong trào cách mạng của nhân dân Trung Kỳ, đặc biệt là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Tháng 4/1933, Quốc tế Cộng sản tiếp tục cử đồng chí Hà Huy Tập về nước qua đường Maxcova - Vlađivôxtốc - Hồng Kông - Quảng Tây. Tại Quảng Tây, Hà Huy Tập đã gặp gỡ, bàn bạc với đồng chí Lê Hồng Phong và các đồng chí khác để chuẩn bị cho việc thành lập Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 3/1934, Ban chỉ huy ở ngoài được thành lập gồm 3 đồng chí: Lê Hồng Phong (Litsvinốp) làm Tổng thư ký, đồng chí Hà Huy Tập (Xinhitơrkin) phụ trách công tác tuyên truyền, cổ động, Tổng biên tập Tạp chí Bônsêvích; Nguyễn Văn Dựt (Svan), thanh tra. Sau khi thành lập và có đại biểu từ trong nước sang (Nguyễn Văn Tham và Trần Văn Chẩn), BCH ở ngoài đã tổ chức Hội nghị BCH ở ngoài và đại diện của tổ chức Đảng ở trong nước từ ngày 16 đến 21/6/1934. Hội nghị đã phân tích, đánh giá một cách hệ thống tình hình, đề ra các biện pháp xây dựng phong trào, thành lập các Xứ ủy và chuẩn bị cho Đại hội Đảng tiến hành vào mùa Xuân năm 1935.
Cùng với Lê Hồng Phong, đồng chí Hà Huy Tập đã bắt tay vào việc chuẩn bị các văn kiện và các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức Đại hội Đảng lần thứ Nhất. Trong thời gian này, Lê Hồng Phong dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng ta đi dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 7 nên chủ trì mọi việc của Đảng đều do đồng chí Hà Huy Tập đảm nhiệm. Đại hội Đảng lần thứ Nhất đã được tổ chức từ ngày 27/3 đến 31/3/1935 tại số nhà 2, đường Quan Công, Ma Cao (Trung Quốc), có 13 đại biểu thay mặt cho 553 đảng viên. Đại hội đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng và bầu BCH Trung ương mới. Đây là một thắng lợi to lớn sau gần 4 năm nỗ lực hoạt động (tháng 4/1931 đến 3/1935), hệ thống tổ chức Đảng được phục hồi từ Trung ương đến cơ sở, thống nhất được phong trào cách mạng của dân tộc đặt dưới sự lãnh đạo của BCH Trung ương mới. Thắng lợi của Đại hội có phần đóng góp to lớn của đồng chí Hà Huy Tập, người trực tiếp chỉ đạo Đại hội.
Ngày 26/7/1936, đồng chí Hà Huy Tập cùng Lê Hồng Phong đồng chủ trì Hội nghị lần thứ 2 Trung ương Đảng tại Thượng Hải (Trung Quốc), quyết định những vấn đề cơ bản chỉ đạo chiến lược và sách lược mới của Đảng trong thời kỳ mới. Trong hội nghị này, Ban chỉ huy ở ngoài quyết định cử đồng chí Hà Huy Tập về nước để tổ chức Ban Trung ương và khôi phục các tổ chức Đảng.
Tháng 8/1936, đồng chí Hà Huy Tập về Sài Gòn và quyết định chọn địa điểm 18 thôn Vườn Trầu (Hóc Môn) làm Trụ sở Trung ương Đảng. Ngày 12/10/1936, đồng chí Hà Huy Tập đã triệu tập Hội nghị cán bộ để bầu BCH Trung ương lâm thời và được bầu làm Tổng Bí thư. Sau đó BCH Trung ương đã tổ chức Hội nghị lần thứ Nhất bàn về công tác xây dựng Đảng và các tổ chức quần chúng.
Từ ngày 13 đến 14/3/1937, đồng chí Hà Huy Tập đã chủ trì Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 2 để kiểm điểm lại hoạt động của Đảng và bầu BCH Trung ương, đồng chí tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư. Trong thời gian này Hà Huy Tập đã sáng lập, làm Tổng biên tập các cơ quan ngôn luận của Đảng như báo L.Avant, Le Peuple, viết nhiều tác phẩm lý luận và các Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản. Từ ngày 29 đến 30/3/1938, tại làng Tân Thới Nhất, Bà Điểm, xã Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Hà Huy Tập chủ trì Hội nghị BCH Trung ương. Tại Hội nghị này, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Đồng chí Hà Huy Tập vẫn nằm trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng.
Ngày 01/5/1938, đồng chí Hà Huy Tập bị thực dân Pháp bắt khi đang bí mật chỉ đạo cuộc đấu tranh của nhân dân Sài Gòn nhân ngày Quốc tế Lao động. Đồng chí Hà Huy Tập bị Tòa Tiểu hình Sài Gòn kết án 2 tháng tù giam và 5 năm quản thúc, sau đó Tòa Thượng thẩm xử thêm 6 tháng tù và 5 năm quản thúc. Ngày 28/3/1939, đồng chí Hà Huy Tập được thả khỏi khám lớn Sài Gòn và bị đưa về quê quản thúc. Tại Nghệ Tĩnh, với tinh thần ham hoạt động, đồng chí Hà Huy Tập tìm mọi cách liên lạc với tổ chức Đảng và tham gia các phong trào cách mạng của quần chúng, sau đó bị giam giữ tại nhà tù ở Nghệ An. Nhận thấy đồng chí Hà Huy Tập là một nhà hoạt động cách mạng nguy hiểm, ngày 30/3/1940, thực dân Pháp đã bắt giữ và giải đồng chí vào giam giữ tại Khám Lớn Sài Gòn. Chúng liên tiếp tra tấn và mở nhiều phiên tòa để xét xử, kết án đồng chí. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, nhân cơ hội này chúng gán ghép đồng chí Hà Huy Tập “có trách nhiệm tinh thần” với cuộc khởi nghĩa và kết án tử hình. Trước toà án thực dân, đồng chí Hà Huy Tập khẳng khái nói: “Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống, tôi vẫn tiếp tục hoạt động”.
Ngày 02/5/1941, đồng chí Hà Huy Tập viết thư vĩnh biệt cho gia đình và bạn hữu. Giữa lằn ranh sinh tử, bức thư không chỉ là lời dặn dò cuối cùng mà còn là bản tuyên ngôn về ý chí kiên cường, sự lạc quan và tấm lòng trung trinh của một người cộng sản chân chính: “Nếu tôi phải bị chết thì ở nhà không nên thờ cúng, điếu phúng, không cần tìm người lập tự. Gia đình và bạn hữu chớ xem tôi như là người đã chết mà buồn, trái lại nên xem tôi như người còn sống nhưng đi vắng vô hạn... mà thôi.”
Ngày 28/8/1941, tại trường bắn Ngã tư Giếng Nước (xã Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh), thực dân Pháp đã xử bắn đồng chí Hà Huy Tập cùng với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu...
Lời nhắn gửi bất hủ ấy đã cho thấy tâm thế bình thản của một người chiến sĩ đã hiến dâng trọn đời mình cho lý tưởng. Ngay cả khi đối mặt với án tử hình tại pháp trường Ngã tư Giếng Nước vào ngày 28/8/1941, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết, hô vang khẩu hiệu “Cách mạng muôn năm!”, để lại một tấm gương sáng ngời về đức hy sinh vì dân, vì nước cho các thế hệ mai sau.
III. KHU DI TÍCH TỔNG BÍ THƯ HÀ HUY TẬP
Sau 69 năm, mùa Đông năm 2009 tại thôn Vườn Trầu, xã Xuân Thới Thượng, Thành phố Hồ Chí Minh, hài cốt đồng chí Hà Huy Tập đã được tìm thấy và được đưa về an táng tại quê nhà. Sáng ngày 01/12/2009, lễ truy điệu hài cốt của đồng chí được tổ chức tại Hội trường Dinh Thống nhất, Thành phố Hồ Chí Minh. Được sự đồng ý của Ban Bí thư TW Đảng, ngày 02/12/2009, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức trọng thể lễ đón và an táng di hài của đồng chí tại Khu di tích Cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập xã Cẩm Hưng, tỉnh Hà Tĩnh.
Khu di tích cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập là một địa chỉ đỏ để các thế hệ hôm nay đến tưởng niệm và ngưỡng mộ một tấm gương thanh niên đầy chí khí và nhiệt huyết cách mạng. Một nhà lãnh đạo tài năng có công lao to lớn trong việc khôi phục tổ chức và ban lãnh đạo của Đảng trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, khi phong trào bị phá vỡ sau cao trào 1930-1931, chuẩn bị và tổ chức Đại hội Đảng lần thứ I, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng lãnh đạo suốt 4 năm liền. Một nhà lý luận giàu tính chiến đấu trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Một tấm gương kiên trung, bất khuất, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp của Đảng và dân tộc.