DẤU ẤN, THÀNH TỰU SAU 40 NĂM ĐỔI MỚI
Chủ trương đổi mới đã được Đảng ta đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng.
Đến nay, sau 40 năm, sự nghiệp đổi mới đã đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1. QUY MÔ NỀN KINH TẾ TĂNG NHANH
- Nền kinh tế nước ta vượt qua nhiều khó khăn, thách thức; thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất của khu vực và IMF đánh giá Việt Nam nằm trong Top 20 nền kinh tế đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng toàn cầu năm 2019.
- Đáng chú ý, năm 2020, dưới tác động của COVID-19, nhiều nước trên thế giới đã rơi vào suy thoái. Tuy nhiên, Việt Nam là một trong số ít quốc gia vẫn duy trì tăng trưởng dương (2,9%), bảo đảm an sinh xã hội. Theo đánh giá của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, kết thúc năm 2020, Việt Nam đã đạt được “mục tiêu kép” trong phòng chống COVID-19 và duy trì tăng trưởng kinh tế. Tạp chí The Economist tháng 8/2020 đã xếp Việt Nam trong top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới.
- Qua 40 năm, từ chỗ thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản, như: cà phê, gạo, hạt điều, rau quả, tôm, gỗ và sản phẩm từ gỗ... luôn duy trì ở mức cao. Các mặt hàng xuất khẩu khác cũng có bước tiến lớn.
- Năm 2025 được coi là thời điểm “tăng tốc và bứt phá” để đạt mục tiêu cả nhiệm kỳ 2020-2025, do đó, Chính phủ đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 8%-10%. Mới đây, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cũng đã nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2025 lên 6,6%, từ mức 6,2% dự báo vào tháng 9/2024. Điều này cho thấy triển vọng tích cực của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.
2. ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
- Trong 40 năm đổi mới, đặc biệt sau 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011, nhận thức của Đảng về sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã có những bước phát triển mới về cả nội dung và phương thức thực hiện.
- Trong giai đoạn 2010-2020 tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP giảm từ 18,9% năm 2010 xuống 14,85% năm 2020; các khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng tương ứng từ 81,1% lên 85,15%, vượt mục tiêu đề ra.
- Năm 2024 chứng kiến sự gia tăng đáng kể về số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Theo báo cáo của Tổng Cục thống kê, trong năm 2024, cả nước có hơn 233,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 7,1% so với năm 2023. Đây là minh chứng cho sự phục hồi và phát triển của môi trường kinh doanh tại Việt Nam sau những khó khăn do tác động từ nền kinh tế toàn cầu.
3. VIỆC PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐẶC BIỆT LÀ CÔNG NGHỆ CAO CÓ TIẾN BỘ, TẠO NHỮNG TIỀN ĐỀ ĐỂ CHUYỂN SANG XÂY DỰNG KINH TẾ TRI THỨC
- Đến năm 2023, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 36,6 tỷ USD; năm 2024 đạt khoảng 38,23 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước thu hút FDI hàng đầu thế giới. FDI đóng góp đáng kể vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu và tạo ra hàng triệu việc làm mới cho người lao động.
- Theo Báo cáo GII 2024 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam tiếp tục thăng hạng, đạt vị trí 44/133 quốc gia và nền kinh tế, tăng 2 bậc so với năm 2023.
4. BỨT PHÁ VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VÀ DU LỊCH
- Xuất khẩu hàng hóa là một thế mạnh của Việt Nam trong những năm gần đây, khi giá trị kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên và đã có 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm 2016.
- Kết thúc năm 2024, cả nước có 36 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 69,0% tổng kim ngạch xuất khẩu, đó là các mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện (72,584 tỷ USD); điện thoại các loại và linh kiện (53,892 tỷ USD); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (52,192 tỷ USD).
- Xuất khẩu gạo năm 2024 cũng lập kỷ lục mới cả về sản lượng và kim ngạch, giúp Việt Nam giữ vững vị thế top 3 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Đây là bước bứt phá vô cùng ấn tượng sau 35 năm kể từ khi Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo.
- Du lịch là lĩnh vực gặt hái được nhiều thành công, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Năm 2024, Giải thưởng Du lịch thế giới (World Travel Awards-WTA) tiếp tục tôn vinh Việt Nam ở 3 hạng mục: Điểm đến hàng đầu châu Á, Điểm đến di sản hàng đầu châu Á và Điểm đến thiên nhiên hàng đầu châu Á. Ngoài ra còn có 45 giải thưởng hàng đầu châu Á khác dành cho các điểm đến, khu nghỉ dưỡng, doanh nghiệp lữ hành, hàng không… của Việt Nam.
5. CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI KHÔNG NGỪNG TĂNG LÊN
- Năm 2006, Việt Nam hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói, về đích trước 10 năm so với thời hạn (năm 2015); trở thành một trong số những nước đi đầu ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều để giảm nghèo ở tất cả các chiều cạnh.
- Theo Báo cáo phát triển con người (HDR) 2025 của UNDP tại Việt Nam với chủ đề “Kỷ nguyên Trí tuệ nhân tạo và lựa chọn phát triển con người,” chỉ số phát triển con người HDI của Việt Nam năm 2023 đạt 0,766 - xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao - đứng thứ 93 trên tổng số 193 quốc gia và vùng lãnh thổ.
- Điều đáng chú ý là Việt Nam đạt được tiến triển về HDI nhưng không phải đánh đổi nhiều về bất bình đẳng. Báo cáo của UNDP cũng nhấn mạnh Việt Nam có kết quả tốt về khía cạnh bình đẳng giới.
6. ĐÓNG GÓP LỚN TỪ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
- Tự lực xây dựng Nhà máy Thủy điện Sơn La có công suất 2.400 MW lớn nhất Đông Nam Á, trong đó có thiết bị cơ khí thủy công và thiết bị nâng hạ 1.200 tấn. Việt Nam là 1 trong 3 nước ở châu Á và 1 trong 10 nước trên thế giới làm chủ thiết kế và chế tạo giàn khoan dầu khí tự nâng 90m nước, 120m nước...; làm chủ công nghệ tiên tiến trong thiết kế, thi công các công trình giao thông, xây dựng có trình độ công nghệ cao, như: cầu bê tông đúc hẫng khẩu độ trên 150 m, cầu dây văng nhịp lớn, cầu Pá Uôn trụ cao gần 100 m.
- Vươn lên trở thành một trong những nước dẫn đầu thế giới về sản xuất công nghiệp phần cứng, điện tử-viễn thông: đứng thứ 2 về sản xuất điện thoại và linh kiện, thứ 10 thế giới về sản xuất điện tử và linh kiện.
- Đáng chú ý, Việt Nam đã đưa lên quỹ đạo các vệ tinh viễn thông Vinasat1 và Vinasat2, vệ tinh viễn thám VNREDSAT và đã chế tạo thành công vệ tinh siêu nhỏ Pico, vệ tinh MicroDragon (được phóng lên quỹ đạo tháng 1/2019).
- Khoa học công nghệ đã đóng góp hơn 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, góp phần đưa Việt Nam từ một nước nhập khẩu lương thực, trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Các mặt hàng nông sản của Việt Nam, như: lúa gạo, hạt tiêu, hạt điều, cao su, hải sản... đã có mặt ở trên 180 quốc gia, vùng lãnh lãnh thổ.
- Tự nghiên cứu, sản xuất được nhiều loại vaccine, như: vaccine phòng bại liệt, vaccine phối hợp phòng sởi-rubella, vaccine cúm mùa 3 trong 1... và mới đây là vaccine dịch tả lợn châu Phi; làm chủ nhiều kỹ thuật ghép tạng, đa tạng, ghép chi thể; dẫn đầu khu vực về phẫu thuật nội soi, giải trình tự gen; làm chủ quy trình phân lập, bảo quản tế bào gốc... Việt Nam cũng tự hào khi là một trong số ít các quốc gia kiểm soát, ngăn ngừa thành công nhiều dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như SARS, cúm A/H7N9.... Đặc biệt, đại dịch COVID-19 là “cú hích” mang lại nhiều thay đổi cho nền y tế Việt Nam, không chỉ trong việc ứng dụng khoa học công nghệ vào phòng, chống dịch (ứng dụng truy vết Bluezone, sử dụng các mạng xã hội như Facebook, Zalo… để tuyên truyền về cách thức phòng, chống dịch bệnh) mà còn triển khai phương pháp khám chữa bệnh mới - hệ thống khám chữa bệnh từ xa...
- Xác định năm 2020 là Năm Chuyển đổi số quốc gia, là năm khởi động tiến trình hướng tới một “Việt Nam số”. Đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực chính phủ điện tử; Theo Báo cáo khảo sát Chính phủ điện tử năm 2024 của Liên hợp quốc, Việt Nam vươn lên vị trí thứ 71/193 quốc gia, tăng 15 bậc so với năm 2022, đây là lần đầu tiên Việt Nam được xếp vào nhóm EGDI ở mức Rất cao và vươn lên vị trí xếp hạng cao nhất kể từ khi bắt đầu tham gia đánh giá EGDI của Liên hợp quốc năm 2003.
7. HỘI NHẬP QUỐC TẾ NGÀY CÀNG SÂU RỘNG
- Thúc đẩy ký kết, phê chuẩn và triển khai hiệu quả Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), thúc đẩy ký Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP); phát huy vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 thúc đẩy triển khai Cộng đồng kinh tế ASEAN và liên kết kinh tế giữa ASEAN với các đối tác…
- Việt Nam cũng là thành viên chủ động, tích cực và có trách nhiệm cao trong các tổ chức quốc tế. Việt Nam đã tham gia vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), các tổ chức của Liên hợp quốc... đóng góp tích cực và đang trở thành nước có vị thế và vai trò ngày càng cao ở khu vực, được cộng đồng quốc tế tôn trọng. Bên cạnh đó, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013-2017, Hội đồng Kinh tế-Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018.
- Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam cùng lúc đảm nhận 3 trọng trách: Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA, trong bối cảnh vô cùng khó khăn của đại dịch COVID-19 và những thiệt hại nặng nề do thiên tai bão lũ... song Việt Nam đã hoàn thành tốt cả ba trọng trách, góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Những thành tựu của công cuộc đổi mới kể trên là kết quả của quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta qua nhiều nhiệm kỳ đại hội, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, có hiệu quả, kịp thời của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy đảng. Đây chính là tiền đề quan trọng, tạo ra tiềm lực, sức mạnh, niềm tin vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong tương lai.
Vượt qua những thử thách chưa từng có tiền lệ, Việt Nam đã xây dựng một mô hình kinh tế tổng quát là phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hiện đại và hội nhập quốc tế; hướng tới mục tiêu phát triển, lấy con người làm trung tâm, vì một Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phát triển bền vững, bao trùm và hội nhập./.
Chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước
đến năm 2030!
Theo daihoidang.vn